AN CƯ KIẾT HẠ.
An Cư Kiết Hạ là một pháp của Phật. Vì là một pháp của Phật nên cũng đầy đủ ba phần là Thể, Tướng và Dụng.
Về Thể:
An Cư Kiết Hạ lấy thân tâm cư trú nơi giới hạnh an tịnh, nơi phạm hạnh an tĩnh giải thoát bất động làm thể.
Muốn thân tâm an tĩnh giải thoát bất động vị này trong không khởi vọng phân biệt, ngoài không chạy theo hiện tượng để sinh pháp.
Thân tâm và thế giới tự nó có đủ tính chất của an tĩnh giải thoát bất động. Chỉ do vọng phân biệt nên vọng tâm sanh khởi. Khi vọng tâm sanh khởi sẽ làm cho hành tâm vọng động, hành tâm vọng động sẽ chạy theo sự việc; lấy sự việc làm ta, lấy sự việc làm tâm, lấy sự việc làm ngã… Mà bản chất của sự việc là vô thường, vì thế bất an sẽ sinh khởi. Nếu biết dừng lại, không khởi vọng phân biệt, không lấy sự việc làm ta, lấy sự việc làm tâm, lấy sự việc làm ngã… thì chơn tâm sẽ tự hiện và tự an.
Giống như một người đang đeo cặp kính, nhưng vì vọng khởi nên người này quên mất là đang đeo cặp kính. Do một niệm bất giác, do chạy theo vọng phân biệt, do nghĩ ngợi lung tung v.v… nên người này hướng ra bên ngoài tìm cặp kính. Tìm không được cặp kính nên bất an sinh khởi. Nếu người này tĩnh giác, không chạy theo vọng phân biệt, không nghĩ ngợi lung tung v.v… nhất định người này sẽ biết là đang đeo cặp kính. Biết được rõ ràng như vậy không cần cầu tìm, tâm cũng tự an.
Lại nữa, sở dĩ người tu hành chẳng an tĩnh chỉ vì đối với thân căn và thế giới họ bám giữ danh tướng rồi sanh pháp (sanh các nhận thức, các quan niệm, các giá trị hư ảo… do ý thức ghi nhận). Mà thật ra bản chất của thân, bản chất của thế giới, tự nó không tánh, tự nó không tướng, tự nó chẳng phải là pháp… Do không biết các điều này nên sanh các nhận thức sai lầm về thân căn và thế giới (những vật, những việc ngoài tâm). Vì lầm nhận bản chất của thân căn và thế giới, nên vị này đã chạy theo hiện tượng (tánh hư dối, tướng hư dối, pháp hư dối), chẳng an tĩnh xuất hiện là điều không tránh khỏi.
Giống như trong bóng tối, có người lầm nhận pho tượng sáp là giặc cướp. Do lầm nhận như thế nên người này bất an. Nếu người này biết dừng lại, quán sát thật kỹ pho tượng kia, nhất định sẽ nhận ra thực chất chỉ là pho tượng sáp. Mà pho tượng sáp thì không hề có tướng giặc cướp, không có tánh giặc cướp, không có bản chất của giặc cướp. Thấy biết rõ ràng như vậy, vị này nhất định sẽ an vui tịch tĩnh.
Tóm lại, trong không vọng phân biệt, ngoài không chạy theo cảnh duyên để sinh pháp, hoặc nói theo Lục Tổ là “trong không động, ngoài không loạn”[1], thân tâm sẽ an lạc giải thoát bất động. Cỗ đức dạy, “An kỳ tâm, Cư kỳ thân”, vì thế, mới nói An Cư Kiết Hạ lấy an tĩnh giải thoát bất động làm thể.
Về Tướng:
Mùa An Cư Kiết Hạ còn gọi là mùa An Cư Kiết Vũ. Hạ là mùa Hạ, Vũ là mùa mưa. Thông thường mùa hạ lấy ba tháng làm một mùa (một năm có bốn mùa), cho nên An Cư Kiết Hạ tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông. Trong ba tháng này Chư Tăng vân tập về cư trú trong một tịnh xá, chùa, thiền viện… cùng với các vị đồng phạm hạnh tập trung chuyên tu giới, định, huệ. Bắt đầu mùa an cư là sau rằm tháng tư âm lịch, và kết thúc vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứ kết thúc mùa an cư.
Bắt đầu kết chế an cư thì gọi là Kiết Hạ (結夏), khi kết thúc An Cư thì gọi là Giải Hạ (解夏).
Theo Thích Trung Định thì “về thời gian An cư, thông thường phần nhiều lấy một hạ chín tuần (tức ba tháng) làm kì hạn. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển thượng phần 4, lấy ngày 16 tháng 4 là ngày đầu an cư, ngày 15 tháng 7 là ngày cuối cùng, ngày hôm sau là ngày Tự tứ; Luật Ma Ha Tăng Kì quyển 27, thì lấy ngày 15 tháng 7 làm ngày Tự tứ. Về ngày tháng quy định thì tùy theo đất nước, khí hậu, để tiến hành an cư cho phù hợp.
Theo Tạng Luật Đại Phẩm, Đức Phật quy định có hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: Tiền an cư và Hậu an cư. Tiền an cư thì bắt đầu vào nhằm ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha, Hậu an cư thì bắt đầu vào khi (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha đã trôi qua một tháng. “Này các tỳ kheo, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa.”(3)
Truyền thống Phật giáo Nguyên thủy y cứ theo lịch này nên bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà). Còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Và số mùa an cư mà một vị Tỷ kheo đã trải qua được dùng để tính hạ lạp, tức tuổi đạo. Ngoài ra còn một số quy định cụ thể về pháp an cư (như cư trú phù hợp, phòng xá,…) được ghi lại rõ trong luật tạng.”[2]
Về Dụng:
An Cư Kiết Hạ giúp Chư Tăng cư trú tu tập với các vị đồng phạm hạnh chung trong một tập thể trên tinh thần Lục Hòa (Thân hòa cộng trụ, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng sự, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải, Lợi hòa đồng quân).
An Cư Kiết Hạ giúp Chư Tăng có thời gian thúc liễm thân tâm, chuyên tu miên mật để tự thân giải thoát khỏi các kiết sử nóng bức phiền não, chứng ngộ Niết bàn an vui tịch tĩnh, sau đó thì giúp người khác cũng đồng được như vậy.
An Cư Kiết Hạ giúp Chư Tăng rốt ráo thành tựu giới, văn, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Làm gương mẫu và chỗ sở y cho hàng tứ chúng.
An Cư Kiết Hạ xô dẹp thị phi ngoại đạo và tránh cơ hiềm thế gian.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.15/5/2022.
An cư kiết hạ là gì? Ý nghĩa của An cư kiết hạ An cư kiết hạ có ý nghĩa rất lớn đối với hàng xuất gia lẫn tại gia. Đó là thời điểm chư Tăng Ni dành trọn thời gian cho việc tu học, thúc liễm thân tâm, trau giồi Giới-Định-Tuệ,là cơ hội cho hàng Phật tử tại gia phát tâm gieo trồng ruộng phước thông qua việc cúng dường. Duyên khởi pháp An cư kiết hạ Theo Đại Phẩm Luật Tạng, trong những năm đầu thiết lập Tăng đoàn (saṅgha) đức Phật chưa chế pháp an cư, thế rồi khi mùa mưa đến cây cối mọc lên kéo theo sự sinh sôi nảy nở của vô số côn trùng. Một số đạo sỹ các giáo phái khác họ cũng có quy định an trú trong mùa mưa để tránh giẫm đạp làm tổ̉n hại sinh mạng; thế nhưng chư tăng đệ tử Phật vẫn tiếp tục du hành trong ba tháng mùa mưa. Sự việc này đã khiến dân chúng và các giáo phái ngoại đạo kịch liệt chỉ trích: “Làm thế nào có thể những Sa-môn, con trai của dòng họ Thích Ca đi về trong mùa đông, mùa hè và cả trong mùa mưa, họ c...
Comments
Post a Comment