Đức Phật An cư Kiết hạ.
Tinh chuyên thiền định trong ba tháng mùa mưa vốn rất quan trọng trong tiến trình tu tập của người xuất gia. Sau những tháng ngày vân du giáo hóa, dừng chân một chỗ cùng tu tập với hội chúng Tăng già để trưởng dưỡng đạo tâm, nuôi lớn hạt giống thanh tịnh lục hòa là việc cần làm
Một thời, Thế Tôn trú ở Icchànan-gala, tại khóm rừng ở Icchànan-gala. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: -Ta muốn sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.
Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các ông: “Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?”.
Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh niệm Ta thở vô, chánh niệm Ta thở ra. Hay thở vô dài, Ta rõ biết: “Ta thở vô dài”. Hay thở ra dài, Ta rõ biết: “Ta thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở ra ngắn”... “Quán từ bỏ, Ta thở vô”, Ta rõ biết như vậy. “Quán từ bỏ, Ta thở ra”, Ta rõ biết như vậy.
Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
SUY NGHIỆM:
An cư ba tháng mùa mưa là truyền thống tu tập của chư Tăng do Thế Tôn chế định từ thời Ngài còn tại thế, được duy trì liên tục cho đến ngày nay. Tinh chuyên thiền định trong ba tháng mùa mưa vốn rất quan trọng trong tiến trình tu tập của người xuất gia. Sau những tháng ngày vân du giáo hóa, dừng chân một chỗ cùng tu tập với hội chúng Tăng già để trưởng dưỡng đạo tâm, nuôi lớn hạt giống thanh tịnh lục hòa là việc cần làm.
Lâu nay chư Tăng thường sách tấn nhau an cư, thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới-Định-Tuệ để chứng đắc các Thánh quả. Đó là chuyện hiển nhiên mà các Tỷ-kheo cần phải tuân thủ thực hành như một phận sự. Nhưng ít ai ngờ rằng, Thế Tôn và các bậc Thánh A la hán cũng vẫn an cư: “Những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác”.
Thế Tôn, bậc Giác ngộ, phạm hạnh đã thành, gánh nặng đã đặt xuống mà vẫn “sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại”. Chúng ta cùng suy nghiệm về điều này để thấy rằng Phật đã thân giáo một cách cụ thể cho hậu thế về phận sự an cư. Rõ ràng, một Tỷ-kheo không thể nhân danh bất cứ điều gì hay viện dẫn bất kỳ lý do nào mà chểnh mảng phận sự an cư. Vì đó là Phạm trú, là Thánh trú, là Như Lai trú.
Ứng dụng pháp quán niệm hơi thở, an trú chính niệm tỉnh giác là nền tảng của Phạm trú, Thánh trú và Như Lai trú. Thế Tôn đã chỉ rõ, chính Ngài: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”. Do đó, những hành giả an cư cần quán niệm hơi thở để thiết lập chánh niệm tỉnh giác nhằm điều phục phiền não. Tất nhiên pháp quán niệm hơi thở đã được Thế Tôn áp dụng và khẳng định như pháp hành căn bản nhưng chúng ta có thể vận dụng các pháp khác như sám hối, tụng kinh, niệm Phật, trì chú v.v…, cốt yếu của vấn đề là thiết lập được chính niệm tỉnh giác.
Thời Thế Tôn, sau mỗi mùa an cư, các Tỷ-kheo đều thăng tiến về tâm linh, khá nhiều vị chứng đắc các Thánh quả. Chúng ta ngày nay thực hiện phận sự an cư tuy không chứng đắc như tiền nhân nhưng nhờ nương đức tu của Tăng chúng mà giới hạnh tròn đầy, phước huệ tăng trưởng. An cư chính là thiết lập, an trú và thể nhập Phạm trú, Thánh trú và Như Lai trú.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.12/5/2022.
An cư kiết hạ là gì? Ý nghĩa của An cư kiết hạ An cư kiết hạ có ý nghĩa rất lớn đối với hàng xuất gia lẫn tại gia. Đó là thời điểm chư Tăng Ni dành trọn thời gian cho việc tu học, thúc liễm thân tâm, trau giồi Giới-Định-Tuệ,là cơ hội cho hàng Phật tử tại gia phát tâm gieo trồng ruộng phước thông qua việc cúng dường. Duyên khởi pháp An cư kiết hạ Theo Đại Phẩm Luật Tạng, trong những năm đầu thiết lập Tăng đoàn (saṅgha) đức Phật chưa chế pháp an cư, thế rồi khi mùa mưa đến cây cối mọc lên kéo theo sự sinh sôi nảy nở của vô số côn trùng. Một số đạo sỹ các giáo phái khác họ cũng có quy định an trú trong mùa mưa để tránh giẫm đạp làm tổ̉n hại sinh mạng; thế nhưng chư tăng đệ tử Phật vẫn tiếp tục du hành trong ba tháng mùa mưa. Sự việc này đã khiến dân chúng và các giáo phái ngoại đạo kịch liệt chỉ trích: “Làm thế nào có thể những Sa-môn, con trai của dòng họ Thích Ca đi về trong mùa đông, mùa hè và cả trong mùa mưa, họ c...
Comments
Post a Comment